Câu hỏi 539417:
Tiếng Việt và Tiếng Hán khác nhau: tiếng Việt có 6 thanh, tiếng Hán có 4 thanh.
Tiếng Việt và Tiếng Hán khác nhau: tiếng Việt có 6 thanh, tiếng Hán có 4 thanh.
Đặc trưng của phụ âm: luồn hơi đi ra bị cản khi phát âm, mạnh, không vang, chỉ tập trung vào tiêu điểm cấu âm.
Trọng âm là: hiện tượng nhấn mạnh vào một âm tiết trong từ.
Âm vị là cái trừu tượng của âm tố. Còn tố vị là cái cụ thể của âm vị.
Gỉa thuyết về nguồn gốc ngôn ngữ thời Phục Hưng> thuyết tượng thanh, thuyết cảm thán,thuyết quy ước xã hội,thước ngôn ngữ cử chỉ.
Từ đồng nghĩa chia làm 2 loại: Tuyệt đối (Hán Việt thuần Việt, từ cũ và từ mới, địa phương và toàn dân) Tương đối (khác nhau về sắc thái biểu cảm).
Câu phương tiện chính để biểu đạt và giao tiếp.
Đặc trưng của nguyên âm: tạo ra luống hơi tự do, yếu, có tiếng vang, các bộ phát âm đều.
Ý nghĩa ngữ pháp là: ý nghĩa chung của nhiều từ, nhiều đơn vị ngữ pháp có tính khái quát và trừu tượng.
Các quan hệ chủ yếu trong hệ thống tín hiệu ngôn ngữ: 3 mối quan hệ: ngữ đoạn.cấp bậc, liên tưởng.
Các thành phần nghĩa của từ: có 4 thành phần: nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu vật, nghĩa biểu thái và nghĩa cấu trúc.
Miêu tả nguyên âm “U”: dòng sau, độ mở hẹp, tròn môi.
Các kiểu quan hệ ngữ pháp: 3 kiểu: chủ vị , chính phụ, đẳng lập
Thành phần câu gồm: thành phần chính gồm: chủ ngữ và vị ngữ, thành phần phụ gồm: trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ.
Thành phần chính của câu gồm: chủ ngữ và vị ngữ.
Người Việt chọn: tiếng Việt làm ngôn ngữ văn hóa.
Quan hệ ngữ pháp trong câu “60 tuổi hãy còn xuân chán …..” là: hoán dụ.
Tiếng Nga gồm 6 cách.
Từ “nhí nhảnh” có: 1 từ,2 âm tiết, 2 hình vị, 3 âm vị và 5 âm tố.
Tiếng Việt chủ yếu dùng các phương thức: hư từ, trật tự từ, ngữ điệu.
Để giúp chúng tôi phát triển sản phẩm tốt hơn, đạt kết quả học tập cao hơn