Câu hỏi 539807:
Quan hệ ngữ pháp trong câu ca dao: “còn trời, còn nước, còn non / còn cô bán rượu anh còn say sưa” là: quan hệ đẳng lập.
Quan hệ ngữ pháp trong câu ca dao: “còn trời, còn nước, còn non / còn cô bán rượu anh còn say sưa” là: quan hệ đẳng lập.
Trong tiếng Việt “bạn Hương – lớp trưởng lớp tôi” là quan hệ chủ vị.
Tiếng Việt chủ yếu dùng các phương thức: hư từ, trật tự từ, ngữ điệu.
Từ “nhí nhảnh” có: 1 từ,2 âm tiết, 2 hình vị, 3 âm vị và 5 âm tố.
Tiếng Nga gồm 6 cách.
Quan hệ ngữ pháp trong câu “60 tuổi hãy còn xuân chán …..” là: hoán dụ.
Người Việt chọn: tiếng Việt làm ngôn ngữ văn hóa.
Thành phần chính của câu gồm: chủ ngữ và vị ngữ.
Thành phần câu gồm: thành phần chính gồm: chủ ngữ và vị ngữ, thành phần phụ gồm: trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ.
Các kiểu quan hệ ngữ pháp: 3 kiểu: chủ vị , chính phụ, đẳng lập
Miêu tả nguyên âm “U”: dòng sau, độ mở hẹp, tròn môi.
Các thành phần nghĩa của từ: có 4 thành phần: nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu vật, nghĩa biểu thái và nghĩa cấu trúc.
Các quan hệ chủ yếu trong hệ thống tín hiệu ngôn ngữ: 3 mối quan hệ: ngữ đoạn.cấp bậc, liên tưởng.
Ý nghĩa ngữ pháp là: ý nghĩa chung của nhiều từ, nhiều đơn vị ngữ pháp có tính khái quát và trừu tượng.
Đặc trưng của nguyên âm: tạo ra luống hơi tự do, yếu, có tiếng vang, các bộ phát âm đều.
Câu phương tiện chính để biểu đạt và giao tiếp.
Từ đồng nghĩa chia làm 2 loại: Tuyệt đối (Hán Việt thuần Việt, từ cũ và từ mới, địa phương và toàn dân) Tương đối (khác nhau về sắc thái biểu cảm).
Gỉa thuyết về nguồn gốc ngôn ngữ thời Phục Hưng> thuyết tượng thanh, thuyết cảm thán,thuyết quy ước xã hội,thước ngôn ngữ cử chỉ.
Âm vị là cái trừu tượng của âm tố. Còn tố vị là cái cụ thể của âm vị.
Trọng âm là: hiện tượng nhấn mạnh vào một âm tiết trong từ.
Để giúp chúng tôi phát triển sản phẩm tốt hơn, đạt kết quả học tập cao hơn